Về việc học song ngữ

by admin-tomokid
in Blog
Comments are off for this post.

Học ngoại ngữ sớm có quên tiếng Việt?

9

Chim muông không có khả năng này. Mỗi loài chỉ có thể nói theo “ngôn ngữ” tổ tiên mình. Loài vẹt, loài sáo… có thể “học vẹt” được một số từ nào đó của con người, nhưng chúng “nói” mà không hiểu. Còn bộ óc của con người đã phát triển tới mức có thể tiếp thụ, lĩnh hội được ngôn ngữ khác tiếng mẹ đẻ.

Năng lực bẩm sinh ngôn ngữ

Trong các ngày 10 – 13.10.1975, tại trung tâm Royaumont, Paris, có cuộc thảo luận về chủ đề lý thuyết về hoạt động ngôn ngữ và sự học tập ngôn ngữ giữa nhà ngôn ngữ học Mỹ lừng danh Noam Chomsky và nhà tâm lý học Thuỵ Sĩ cự phách Jean Piaget. Tham dự còn rất nhiều nhà khoa học tên tuổi thuộc những lĩnh vực nhận thức luận, triết học, y học, di truyền học, thần kinh học, toán học, nhân chủng học, sư phạm học, trí tuệ nhân tạo… Tâm điểm cuộc trao đổi là lý thuyết tính bẩm sinh trong ngôn ngữ của Noam Chomsky và lý thuyết về sự phát triển tâm lý nhận thức trong quá trình học tiếng của Jean Piaget.

Theo N. Chomsky, ngôn ngữ con người là một hệ thống phổ quát. Có mấy ngàn ngôn ngữ tự nhiên. Chúng chỉ khác nhau trên bề mặt, còn cấu trúc chìm (underlying structures) lại rất giống nhau. Con người thừa hưởng một năng lực bẩm sinh về ngôn ngữ được di truyền từ đời này qua đời khác. Trẻ em dùng cái năng lực bẩm sinh ngôn ngữ này để học những ngôn ngữ cụ thể. Đây là học nói. Sau mới học viết, học các quy tắc từ vựng, ngữ pháp.

Đứa trẻ hình thành một ngôn ngữ qua quá trình tiếp nhận, học tập, sáng tạo nhờ năng lực bẩm sinh ngôn ngữ. Các em bắt chước và lặp lại theo lời người lớn, tự ghép nối những từ rời theo những “quy tắc” các em cảm nhận được khi nghe người chung quanh nói và được điều chỉnh, rút kinh nghiệm theo sự chỉ bảo của người lớn cho đúng với tình huống dùng…

Trong khi đó, trường phái hành vi luận (behaviorism) trong giảng dạy và học tập ngôn ngữ lại dựa trên hòn đá tảng là tính phi bẩm sinh (innateness). Quá trình kích thích – phản xạ theo những cách tiếp cận khác nhau sẽ tạo ra những thói quen ngôn ngữ rồi trở thành những cấu trúc ngôn ngữ.

Theo thời gian, năng lực bẩm sinh ngôn ngữ giảm dần. Lúc này, sự khác biệt loại hình (typology) giữa hai ngôn ngữ sẽ ảnh hưởng đến sự tiếp nhận của người học. Người Pháp học tiếng Rumani dễ hơn học tiếng Việt. Người Việt học tiếng Trung dễ hơn học tiếng Nga. Luận điểm của Jean Piaget về thụ đắc ngôn ngữ đúng ở giai đoạn này.

Những người song ngữ

“Người song ngữ” là người biết hai thứ tiếng. Nước ta có những cộng đồng dân tộc nằm trong cộng đồng người Việt nên họ nói hai thứ tiếng, tiếng Việt và tiếng của cộng đồng mình: tiếng Hoa, tiếng Khmer, tiếng Chăm, tiếng Tày, tiếng Êđê, tiếng Khơmú…

10

Có sự phân biệt song ngữ hoàn toàn, thành thạo hai ngôn ngữ như nhau, và song ngữ bộ phận, nắm vững một ngôn ngữ còn ngôn ngữ kia dùng được trong từng phạm vi cơ bản. Lại có thể phân biệt “song ngữ mù chữ” và “song ngữ biết chữ”. Có những người Hoa ở Sóc Trăng nói thoải mái ba thứ tiếng Việt, Hoa, Khmer vẫn có thể mù chữ một, hai thứ tiếng mà họ nói thành thạo. Điều này là một bằng chứng ủng hộ cho giả thuyết bẩm sinh: Biết nói do học hỏi từ bé, học hỏi trong cộng đồng, chứ không nhất thiết phải biết chữ, biết các quy tắc ngữ pháp.

Có những đứa trẻ nói được hai thứ tiếng thành thạo như nhau, thứ tiếng mà bố mẹ dùng trong gia đình nó nghe từ bé và thứ tiếng của xã hội mà đứa trẻ học khi tới lớp mẫu giáo và lớn lên trong nhà trường.

Nên học ngoại ngữ từ rất sớm

Không thấy nghiên cứu nào nói rằng khả năng bẩm sinh không dùng được để tiếp nhận hai ngôn ngữ. Vậy thì, sau năm năm đầu đời các em đã vô thức tiếp nhận được cơ cấu tiếng Việt, năng lực bẩm sinh ngôn ngữ vẫn được các em dùng để tiếp nhận một ngoại ngữ khác. Nên tận dụng điều này cho trẻ em học ngoại ngữ từ rất sớm. Nó sẽ hiệu quả hơn nhiều so với tới trung học mới học ngoại ngữ. Vấn đề là phải có những điều kiện cần để việc học ngoại ngữ sớm thành công.

Trước hết, cách học tiếng ở giai đoạn này là học mà chơi, chơi mà học. Học theo kiểu bắt chước những hình ảnh thấy trên màn hình, bắt chước lời thầy cô, bắt chước những tình huống giao tiếp.
Muốn vậy, một mặt cần có chương trình và phương tiện giảng dạy tốt: Thật nhẹ nhàng, sinh động qua những trò chơi và bài hát thích hợp với tâm sinh lý trẻ nhỏ. Mặt khác, thầy cô phải là những người mẫu mực, thực sự thông thạo trong giao tiếp tiếng Anh để trẻ em bắt chước. Nói cách khác, cần những giáo viên giỏi.

Năng lực ngoại ngữ của trẻ em sẽ mất đi nếu không được rèn luyện liên tục.

Trong tình hình hiện nay, khi chưa đủ những điều kiện cần, việc dạy đại trà tiếng Anh ngay từ lớp một sẽ khó thành công. Tuy nhiên, nơi nào và những ai có đủ những điều kiện vừa nêu thì không lý do gì mà không dạy tiếng Anh cho trẻ từ rất sớm.

Nguồn: tham khảo internet

Share this article